Heo nái chửa nên ăn vừa đủ theo thể trạng chứ không ăn thả cửa: giữ lượng ăn ổn định, hơi hạn chế ở tháng đầu, chỉnh theo độ gầy béo ở tháng thứ hai và thứ ba, rồi tăng lên ở khoảng bốn tuần cuối khi thai lớn nhanh, và giảm nhẹ vài ngày trước đẻ.
Lượng cụ thể mỗi ngày phụ thuộc vào loại thức ăn, giống heo, tầm vóc nái và thời tiết. Bài này giải thích nguyên lý chia giai đoạn, cách tự chấm thể trạng nái bằng mắt và tay, những con số chỉ để tham khảo, cùng các thứ hay bị bỏ qua như rau xơ, nước uống và nấm mốc trong thức ăn. Với lượng chính xác, bạn theo hướng dẫn trên bao thức ăn và hỏi cán bộ kỹ thuật chăn nuôi địa phương.
Vì sao không cho nái chửa ăn thả cửa
Nhiều người nuôi nghĩ nái có chửa thì phải cho ăn thật nhiều để con trong bụng to. Thực tế phần lớn thời gian chửa, thai còn nhỏ và nhu cầu thêm cho thai không lớn. Thức ăn dư thừa đi vào mỡ của nái chứ không vào thai.
Nái quá béo lúc đẻ thường đẻ chậm, đẻ khó hơn, dễ đè con hơn, và sau đẻ lại ăn kém đúng lúc cần ăn nhiều nhất để tiết sữa. Hệ quả là nái gầy rộc trong thời gian nuôi con, lên giống lại chậm sau cai sữa. Một vòng béo lúc chửa, gầy lúc nuôi con lặp đi lặp lại làm nái nhanh hỏng.
Ngược lại, nái quá gầy lúc chửa sẽ phải lấy dự trữ của chính mình để nuôi thai, đẻ ra heo con nhẹ cân và không có dự trữ để nuôi con. Mục tiêu là nái vào chuồng đẻ ở thể trạng vừa phải: sờ thấy xương sống và xương hông khi ấn tay xuống, nhưng nhìn không lộ.
Còn một lý do nữa ở tháng đầu: nhiều tài liệu chăn nuôi khuyên không cho nái ăn quá nhiều ngay sau phối vì có thể ảnh hưởng tới tỷ lệ phôi sống, nhất là ở nái hậu bị. Vì vậy giữ lượng ăn vừa phải và ổn định trong bốn tuần đầu là cách an toàn.
Ăn vừa không có nghĩa là để nái đói. Nái chửa bị hạn chế quá mức sẽ kêu, cắn phá, đánh nhau khi nuôi nhóm và có thể sụt cân. Lời giải là đủ năng lượng theo nhu cầu cộng thêm xơ để nái thấy no, phần dưới bài nói kỹ hơn.
Chấm thể trạng nái bằng mắt và tay
Thang chấm thể trạng giúp bạn quyết định tăng hay giảm khẩu phần cho từng con thay vì cho cả đàn ăn như nhau. Cách làm: nhìn nái từ phía sau và từ bên hông, rồi ấn lòng bàn tay dọc sống lưng và lên hai mỏm xương hông.
| Thể trạng | Nhìn | Sờ tay | Hướng chỉnh |
|---|---|---|---|
| Gầy | Lộ xương sống, xương hông, xương sườn | Chạm xương ngay khi đặt tay | Tăng khẩu phần, kiểm giun sán và bệnh |
| Hơi gầy | Thấy gờ xương hông khi nái đi | Ấn nhẹ là thấy xương | Tăng nhẹ |
| Vừa | Không lộ xương, hông tròn vừa | Ấn vừa tay mới thấy xương | Giữ nguyên |
| Béo | Hông tròn, lưng phẳng | Ấn mạnh mới thấy xương | Giảm nhẹ |
| Quá béo | Mỡ thành nếp ở gốc đuôi | Ấn mạnh không thấy xương | Giảm và tăng xơ, tăng vận động |
Chấm thể trạng vào ba thời điểm là đủ: lúc phối, khoảng ngày 30 đến 40 và khoảng ngày 80 đến 90. Ghi điểm vào sổ cạnh ngày phối để lần sau so sánh. Sau vài lứa, bạn sẽ thấy mức ăn nào giữ được nái nhà mình ở thể trạng vừa.
Khẩu phần theo giai đoạn chửa
Bảng dưới đây mô tả nguyên lý chia giai đoạn. Các con số chỉ là khoảng tham khảo thường được nhắc đến cho thức ăn hỗn hợp dạng khô dành cho nái chửa ở nái tầm vóc trung bình; thức ăn tự phối trộn, giống nhỏ hay giống to đều cho lượng khác. Hãy theo hướng dẫn trên bao và hỏi cán bộ kỹ thuật.
| Giai đoạn (ngày chửa) | Nguyên lý | Khoảng tham khảo mỗi ngày |
|---|---|---|
| 1 đến khoảng 30 | Giữ ổn định, không cho ăn thả cửa | Thường khoảng 1,8 đến 2,2 kg |
| Khoảng 30 đến 84 | Chỉnh theo thể trạng: nái gầy tăng, nái béo giảm | Thường khoảng 2 đến 2,5 kg |
| Khoảng 85 đến 110 | Thai lớn nhanh, bầu vú phát triển, tăng lượng ăn | Thường tăng thêm khoảng 0,5 đến 1 kg so với giai đoạn trước |
| 2 đến 3 ngày trước đẻ | Giảm nhẹ, thêm xơ, chống táo bón | Giảm dần, nhiều người giảm khoảng một phần ba |
| Ngày đẻ | Có thể bỏ một bữa, luôn có nước | Ăn rất ít hoặc không ăn |
Ví dụ giả định: một nái rạ ở thể trạng hơi gầy lúc phối có thể được cho ở mức trên của khoảng tham khảo trong giai đoạn giữa, rồi đánh giá lại ở ngày 80. Nếu lúc đó nái đã về thể trạng vừa, giữ mức tăng của tháng cuối như bình thường thay vì tiếp tục tăng mạnh.
Rau, xơ và chuyện táo bón ở nái chửa
Xơ làm nái no và yên. Khi khẩu phần bị giới hạn, nái hay đói, cắn phá máng, cắn vách. Thêm rau xanh, bèo, thân lá chuối băm, cỏ non hay cám có nhiều xơ giúp nái no bụng mà không thừa năng lượng.
Xơ chống táo bón. Ở tháng cuối, tử cung to chèn ép ruột, nái ít vận động nên dễ táo bón. Táo bón kéo dài làm nái khó chịu, có thể làm ca đẻ kéo dài. Nhìn phân hằng ngày: phân khô, vón thành viên nhỏ là dấu hiệu cần tăng xơ và nước.
Rau phải sạch và tươi. Rau, bèo vớt ở mương nước thải hay ruộng vừa phun thuốc có thể mang mầm bệnh và dư lượng hoá chất. Rửa sạch, không cho ăn rau đã ủ nóng, thối nhũn.
Thay đổi từ từ. Khi thêm loại rau mới hoặc đổi thức ăn, chuyển dần trong vài ngày. Đổi đột ngột có thể làm nái tiêu chảy hoặc bỏ ăn.
Cho rau vào bữa nào. Nhiều hộ cho rau sau bữa thức ăn tinh để nái không bỏ tinh ăn rau trước, hoặc cho rau buổi trưa như một bữa phụ. Cách nào cũng được, miễn đều đặn và rau được ăn hết trong ngày, không để héo úa trong máng.
Tự phối trộn thức ăn từ nông sản nhà: những sai lầm hay gặp
Chỉ có tinh bột. Khẩu phần chỉ có cám gạo, ngô, sắn, rau thì đủ no và đủ năng lượng nhưng thường thiếu đạm, thiếu khoáng như canxi, phốt pho. Nái vẫn chửa và đẻ, nhưng heo con nhẹ cân, nái gầy nhanh khi nuôi con. Cần có nguồn đạm như khô dầu đậu tương, bột cá chất lượng, và khoáng theo hướng dẫn.
Dùng thức ăn thừa không kiểm soát. Cơm thừa, thức ăn thừa từ quán ăn có thể mặn, ôi thiu và lẫn thịt sống. Ngoài nguy cơ cho nái, thức ăn thừa còn là đường lây một số bệnh nguy hiểm của heo; cơ quan thú y thường khuyến cáo không dùng hoặc phải nấu kỹ. Với nái chửa, tốt nhất là không dùng.
Đổi công thức liên tục theo giá nguyên liệu. Mỗi lần đổi công thức là một lần hệ tiêu hoá của nái phải thích nghi. Đổi liên tục làm nái ăn thất thường, phân lúc lỏng lúc khô. Nếu buộc phải đổi, chuyển dần trong vài ngày.
Không cân, chỉ ước bằng gáo. Một gáo ngô và một gáo cám có khối lượng khác nhau rất nhiều. Cân thử một lần mỗi loại gáo bạn dùng, ghi lên cán gáo bằng vạch khắc, từ đó lượng ăn mới ổn định.
Bỏ qua sắn và lá sắn tươi. Củ và lá sắn tươi có chất có thể gây độc nếu không được chế biến đúng như phơi khô, ngâm, nấu kỹ. Không cho nái chửa ăn sắn tươi sống.
Nước uống: thứ bị coi nhẹ nhất
Nái chửa cần uống nhiều nước, nhất là khi ăn thức ăn khô và vào mùa nóng. Thiếu nước, nái ăn ít đi, phân khô, nước tiểu đặc, dễ viêm đường tiết niệu, và trong những tuần cuối có thể ảnh hưởng tới sự phát triển của bầu vú.
Cách kiểm đơn giản: mở núm uống tự động ra hứng vào ca trong một phút, xem nước chảy có đủ mạnh không. Núm bị tắc cặn, áp lực yếu là chuyện rất hay gặp mà người nuôi không biết. Nếu dùng máng, máng phải được rửa mỗi ngày, không để rêu, thức ăn thừa lên men trong nước.
Nước giếng khoan ở một số vùng có nhiều sắt, phèn hoặc nhiễm mặn mùa khô. Nếu nghi ngờ, nên lấy mẫu kiểm tra hoặc dùng nước đã qua lọc. Nước nóng vì ống dẫn phơi nắng cũng làm nái uống ít; chôn ống hoặc che ống là cách rẻ nhất.
Vào những ngày cuối trước đẻ, nước càng quan trọng vì nái chuẩn bị tiết sữa. Nếu nái được chuyển sang chuồng đẻ, việc đầu tiên khi dắt nái vào là mở núm uống ở ô đó kiểm tra lại, vì ô chuồng bỏ trống lâu ngày thường bị tắc hoặc khô ống. Một nái khát trong chuồng đẻ mới lạ sẽ bồn chồn và khó yên.
Thức ăn mốc và nguy cơ cho thai
Ngô, cám gạo, khô dầu để lâu trong kho ẩm dễ bị nấm mốc. Một số loại nấm mốc sinh độc tố ảnh hưởng tới sinh sản của heo: nái có thể lên giống bất thường, sảy thai, đẻ heo con yếu, hoặc heo cái hậu bị bị sưng âm hộ dù chưa đến tuổi. Độc tố không mất đi khi phơi lại hay nấu chín.
Cách phòng là từ khâu mua và cất trữ: mua lượng vừa đủ dùng trong vài tuần, kê bao trên pallet cách nền và cách tường, kho thoáng, không dột. Trước khi đổ thức ăn, nhìn và ngửi: thấy vón cục, đổi màu, có mùi mốc, mùi chua thì không cho nái chửa ăn. Máng ăn phải được vét sạch thức ăn thừa mỗi ngày vì thức ăn ướt đọng lại là nơi mốc phát triển nhanh nhất.
Nếu nhiều nái trong chuồng có vấn đề sinh sản cùng lúc mà không rõ nguyên nhân, hãy kể với thú y về nguồn thức ăn đang dùng. Mẫu thức ăn có thể được gửi đi kiểm độc tố nấm mốc ở các phòng xét nghiệm có chức năng.
Một thói quen nhỏ giúp ích nhiều: mỗi khi mở bao thức ăn mới hay mua lô ngô mới, giữ lại một nắm cho vào túi kín, ghi ngày, cất nơi khô. Nếu vài tuần sau đàn có chuyện, bạn có mẫu đúng lô để gửi kiểm thay vì chỉ có lô đang dùng.
Câu hỏi thường gặp
Cho heo nái chửa ăn mấy bữa một ngày là hợp lý?
Phần lớn hộ nuôi cho ăn hai bữa sáng và chiều, đúng giờ mỗi ngày. Chia đều hai bữa giúp nái đỡ đói và ít tranh ăn khi nuôi nhóm. Quan trọng hơn số bữa là lượng ổn định và giờ ăn đều, vì nái quen giờ sẽ bớt căng thẳng.
Có nên cho nái chửa ăn thức ăn của heo thịt không?
Thức ăn heo thịt được làm cho mục tiêu tăng trọng nhanh, cân đối dưỡng chất khác với nhu cầu của nái chửa. Dùng tạm vài ngày không sao, nhưng dùng lâu dễ làm nái béo hoặc thiếu một số khoáng, vitamin cần cho sinh sản. Nên dùng thức ăn dành cho nái hoặc hỏi cán bộ kỹ thuật về cách phối trộn.
Nái chửa nuôi chung nhóm mà con mạnh ăn tranh con yếu thì làm sao?
Có thể dùng máng dài đủ chỗ cho mọi con cùng ăn, chia thức ăn thành nhiều điểm, làm vách ngăn ngắn ở máng, hoặc tách nái yếu ra ô riêng vào giờ ăn. Theo dõi thể trạng từng con để phát hiện con bị lấn ăn.
Nái hậu bị chửa lứa đầu ăn khác nái rạ ra sao?
Nái hậu bị vẫn đang lớn nên cần dưỡng chất cho cả cơ thể mình lẫn thai. Lượng ăn có thể tương đương hoặc nhỉnh hơn nái rạ cùng tầm vóc tuỳ thể trạng, nhưng vẫn tránh để béo. Hỏi hướng dẫn cụ thể cho giống heo của bạn.
Mùa nóng nái chửa ăn ít thì xử lý thế nào?
Cho ăn vào giờ mát như sáng sớm và chiều tối, làm mát chuồng, bảo đảm nước mát luôn đủ. Có thể làm ẩm nhẹ thức ăn ngay trước bữa để nái dễ ăn, nhưng không để thức ăn ướt tồn trong máng. Nếu nái bỏ ăn kèm sốt, hãy gọi thú y.
Có cần bổ sung thêm khoáng hay vitamin cho nái chửa không?
Thức ăn hỗn hợp cho nái thường đã có khoáng và vitamin. Nếu bạn tự phối trộn từ nông sản, có thể cần thêm premix theo hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật. Không tự ý cho thêm thuốc bổ hay chế phẩm theo quảng cáo khi chưa hỏi người có chuyên môn.