Đồng huyết (còn gọi là cận huyết, giao phối gần) là việc cho phối giữa hai con vật có họ hàng gần, như bố với con gái, mẹ với con trai, hoặc anh chị em ruột. Con sinh ra từ những cặp này dễ mang cùng lúc hai bản sao của các gen lặn có hại, nên tỷ lệ đậu thai giảm, con non chết nhiều hơn, chậm lớn, yếu bệnh và tăng nguy cơ dị tật bẩm sinh.
Ở nông hộ, đồng huyết hiếm khi do người nuôi cố ý. Nó xảy ra lặng lẽ khi một con đực được dùng nhiều năm trong một đàn khép kín, khi con cái được giữ lại làm giống mà không ai nhớ bố nó là con nào, hay khi cả xóm chỉ có một con bò đực. Bài này giải thích bằng ngôn ngữ đời thường cơ chế của đồng huyết, những cặp phối cần tránh, dấu hiệu cho thấy đàn đã bị, và cách phòng bằng sổ ghi chép. Phần lý thuyết di truyền sâu như cách tính hệ số cận huyết theo phả hệ dài nhiều đời không đi vào ở đây.
Cơ chế: vì sao phối họ hàng gần lại sinh con yếu
Mỗi con vật mang hai bản sao của mỗi gen, một từ bố và một từ mẹ. Trong bộ gen của bất kỳ con vật khoẻ mạnh nào cũng có một số gen lặn có hại nằm im, vì bản sao còn lại là bản bình thường che đi. Hai con vật không có họ hàng ít khi mang cùng một gen lặn có hại, nên con của chúng thường vẫn được che chở.
Khi hai con vật có họ hàng gần, chúng đã nhận một phần gen từ cùng một tổ tiên. Khả năng cả hai cùng mang một gen lặn có hại giống hệt nhau tăng lên rõ rệt, và con sinh ra có thể nhận hai bản sao của gen đó. Lúc này gen có hại không còn bị che, biểu hiện thành chết phôi, chết sơ sinh, dị tật, chậm lớn hoặc sức đề kháng kém.
Đó là lý do đồng huyết không phải lúc nào cũng gây hậu quả ngay ở lứa đầu. Có những cặp anh em phối với nhau mà lứa con vẫn trông bình thường. Nhưng nếu lặp lại nhiều thế hệ, hiệu ứng tích luỹ, và người nuôi bắt đầu thấy đàn đi xuống mà không hiểu vì sao. Hiện tượng chung này được giới chăn nuôi gọi là suy thoái do cận huyết.
Cũng cần nói cho đủ: trong công tác giống ở quy mô chương trình, người ta có lúc dùng giao phối cận huyết có kiểm soát để cố định một đặc điểm. Việc đó cần phả hệ dài, chọn lọc khắt khe và loại thải nhiều. Ở quy mô nông hộ vài con bò, vài nái, đàn dê nhỏ, quy tắc an toàn là tránh hẳn.
Những cặp phối nên tránh và mức độ họ hàng
Bảng dưới liệt kê các cặp thường gặp trong đàn nông hộ. Cột “hệ số cận huyết của con” là con số lý thuyết, cho thấy phần gen con sinh ra có thể nhận trùng từ tổ tiên chung; con số càng cao, rủi ro càng lớn.
| Cặp phối | Quan hệ | Hệ số cận huyết của con (lý thuyết) | Lời khuyên |
|---|---|---|---|
| Bố × con gái | Ruột thịt trực hệ | 25% | Tuyệt đối tránh |
| Mẹ × con trai | Ruột thịt trực hệ | 25% | Tuyệt đối tránh |
| Anh × em gái cùng bố cùng mẹ | Anh chị em ruột | 25% | Tuyệt đối tránh |
| Anh × em gái cùng bố khác mẹ | Anh chị em nửa ruột | 12,5% | Nên tránh, rất hay gặp khi dùng một đực lâu năm |
| Ông × cháu gái | Cách một đời | 12,5% | Nên tránh |
| Con của hai anh em | Anh chị em họ | Khoảng 6,25% | Hạn chế, nhất là nếu lặp lại nhiều đời |
Cặp “anh em nửa ruột” đáng để ý nhất ở nông hộ. Khi một con đực phối cho cả đàn trong nhiều năm, gần như mọi con non trong đàn đều là anh chị em cùng bố. Nếu giữ lại một con đực non từ đàn đó làm giống tiếp, nó sẽ phối với chính các chị em cùng bố của mình.
Dấu hiệu đàn có thể đã bị đồng huyết
Tỷ lệ đậu thai giảm dần qua các năm. Phải phối nhiều lần mới đậu, dù thời điểm phối, thức ăn và chuồng không đổi.
Con sơ sinh yếu, chết nhiều trong những ngày đầu. Ở heo, số con sống theo mẹ mỗi lứa ít dần; ở dê, thỏ, nhiều con đẻ ra không bú được.
Dị tật bẩm sinh lặp lại. Một số dị tật như hở hàm ếch, không có lỗ hậu môn, thoát vị rốn hay thoát vị bẹn ở heo con, hoặc chân tật ở bê, dê con, nếu lặp lại trong đàn là dấu hiệu nên xem lại lý lịch. Không phải dị tật nào cũng do đồng huyết; nhiễm bệnh trong thai kỳ, thiếu dinh dưỡng hay độc tố trong thức ăn cũng có thể gây ra, nên cần thú y xem.
Đàn chậm lớn, nhỏ con dần qua các thế hệ. Con cháu nhỏ hơn bố mẹ dù được nuôi tốt hơn.
Hay ốm, khó hồi phục. Con non dễ tiêu chảy, viêm phổi, khó qua khỏi những bệnh mà đàn khác vượt qua được.
Một con đực đã dùng quá lâu. Đây không phải triệu chứng mà là điều kiện. Nếu đàn có các dấu hiệu trên và một con đực đã phục vụ suốt nhiều năm, khả năng đồng huyết rất cao.
Đồng huyết xảy ra thế nào ở một đàn nông hộ: ví dụ giả định
Ví dụ giả định để dễ hình dung: một hộ nuôi mười dê cái, mua một dê đực. Năm đầu, dê đực phối cho cả mười con, đàn có chừng mười lăm dê con. Hộ giữ lại sáu dê cái non đẹp nhất để mở rộng đàn. Chừng một năm sau, sáu dê cái non này tới tuổi phối. Nếu dê đực cũ vẫn ở trong chuồng, nó sẽ phối với chính con gái của mình.
Cũng hộ đó, nếu muốn thay dê đực mà tiếc tiền mua, họ giữ lại một dê đực con đẹp nhất trong lứa năm đầu. Con dê đực non này là con của dê đực cũ, nên nó là anh em cùng bố với sáu dê cái non. Thế là dù đã “thay đực”, đàn vẫn bước vào đồng huyết.
Câu chuyện tương tự xảy ra với bò ở những xóm chỉ có một con bò đực, với heo khi hộ tự giữ heo đực từ đàn nhà, với thỏ khi người nuôi để đực và cái cùng lứa chung chuồng. Điểm chung là không ai làm sai một bước rõ ràng nào, chỉ là không có sổ ghi và không có kế hoạch đổi máu. Chính vì vậy cách phòng đồng huyết ở nông hộ chủ yếu nằm ở hai việc: ghi chép lý lịch và chủ động lấy con đực hoặc tinh từ nguồn không có họ hàng.
Những hiểu lầm hay gặp về đồng huyết
“Hai con đều đẹp thì phối với nhau cho ra con đẹp, kể cả là anh em.” Vẻ ngoài đẹp không cho biết hai con mang những gen lặn nào bên trong. Anh em ruột đẹp vẫn có thể cùng mang một gen có hại, và con của chúng là nơi gen đó lộ ra. Đây là hiểu lầm gây đồng huyết nhiều nhất ở những hộ muốn “giữ giống tốt”.
“Chỉ cần tránh bố với con là đủ.” Bố với con là cặp gần nhất, nhưng anh chị em ruột cũng gần y như vậy, và anh chị em cùng bố, ông với cháu cũng đáng kể. Ở nông hộ, cặp anh chị em cùng bố mới là cặp hay xảy ra nhất mà ít ai để ý.
“Đàn đông thì không lo đồng huyết.” Đàn đông mà chỉ có một con đực thì về mặt họ hàng, cả thế hệ con non vẫn là anh chị em cùng bố. Số con cái đông không bù được cho việc chỉ có một nguồn gen đực.
“Đàn vẫn khoẻ, chưa thấy gì thì chưa sao.” Hậu quả đồng huyết thường lộ dần qua vài thế hệ, khi đã khó sửa. Phòng từ lúc đàn còn khoẻ rẻ hơn nhiều so với đợi tới khi thấy con non chết hay dị tật mới tìm nguyên nhân.
Các bước phòng đồng huyết cho đàn nhỏ
Không cần xét nghiệm gen hay phần mềm phức tạp. Với đàn nông hộ, làm đều những việc dưới đây là đủ để tránh phần lớn rủi ro:
- Đánh số hoặc đặt tên cho từng con giống, kể cả con đực.
- Mỗi con non sinh ra, ghi rõ mẹ là con nào, bố là đực nào hoặc tinh số hiệu gì.
- Trước mỗi lần phối, mở sổ kiểm tra: con đực định dùng có phải là bố, ông, anh em của con cái không.
- Không giữ con đực non từ đàn nhà làm giống cho chính đàn đó; nếu muốn giữ, đổi nó cho một hộ ở xa.
- Đặt kế hoạch thay hoặc đổi con đực trước khi con gái của nó tới tuổi phối.
- Khi dùng thụ tinh nhân tạo, ghi số hiệu tinh và tránh dùng lại tinh của cùng một đực cho thế hệ con gái của chính đực đó.
- Thỉnh thoảng nhập con đực hoặc tinh từ nguồn hoàn toàn khác vùng để “đổi máu” cho đàn.
Việc ghi chép nghe có vẻ phiền, nhưng đó là cách duy nhất để trả lời câu hỏi đơn giản “con này với con kia có họ không” khi đàn đã qua hai, ba thế hệ và trí nhớ không còn đáng tin.
Đàn đã lỡ đồng huyết thì làm gì
Không cần hoảng. Một lứa đồng huyết không làm cả đàn hỏng ngay. Việc cần làm là dừng vòng lặp: thay con đực bằng một con không có họ hàng, hoặc chuyển sang thụ tinh nhân tạo từ nguồn khác, và từ đó trở đi ghi chép đầy đủ.
Những con non sinh ra từ cặp phối họ hàng gần nên được theo dõi kỹ hơn. Con nào có dị tật, chậm lớn rõ rệt hay hay ốm thì không giữ lại làm giống, nuôi thương phẩm theo hướng dẫn thú y. Con nào khoẻ mạnh, phát triển tốt vẫn có thể dùng, miễn là lứa sau được phối với đực không họ hàng.
Nếu đàn đã có dị tật bẩm sinh lặp lại nhiều lần, hãy mời bác sĩ thú y xem để loại trừ nguyên nhân khác như bệnh truyền nhiễm trong thai kỳ hay thức ăn nhiễm độc tố nấm mốc. Đồng huyết là một nguyên nhân hay gặp nhưng không phải nguyên nhân duy nhất, và đổ hết cho đồng huyết có thể khiến bạn bỏ sót một vấn đề khác đang âm thầm.
Về lâu dài, cách đơn giản nhất là bắt tay với vài hộ nuôi cùng loài ở những làng khác để đổi con đực định kỳ. Cách tổ chức việc đổi này có bài riêng trên trang.
Câu hỏi thường gặp
Phối anh em một lần có sao không?
Một lần có thể chưa thấy hậu quả rõ, nhưng rủi ro chết phôi, con yếu và dị tật đã tăng lên. Không có lý do gì để chấp nhận rủi ro này khi bạn có thể đổi đực hoặc dùng tinh từ nguồn khác. Nếu đã lỡ, đừng giữ con non sinh ra từ lứa đó làm giống tiếp.
Con lai giữa hai giống khác nhau có bị đồng huyết không?
Lai hai giống không có họ hàng thường cho con có sức sống tốt, điều mà giới chăn nuôi gọi là ưu thế lai. Nhưng nếu sau đó con lai lại được phối với chính bố hay anh em của nó, đồng huyết vẫn xảy ra như thường. Lai giống không miễn trừ việc ghi chép lý lịch.
Đồng huyết có làm con vật dữ hơn hay khôn hơn không?
Không có cơ sở để nói đồng huyết làm con vật khôn hơn. Tính khí chịu ảnh hưởng của cả di truyền lẫn cách nuôi. Điều đã được ghi nhận rộng rãi là đồng huyết làm giảm sức sống, khả năng sinh sản và sức đề kháng của con non.
Thỏ và gà có cần tránh đồng huyết như bò heo không?
Có. Nguyên lý là như nhau ở mọi loài. Thỏ đẻ nhanh, nhiều lứa nên đồng huyết tích luỹ rất nhanh nếu đực cái cùng lứa nuôi chung. Gà, vịt cũng vậy khi hộ giữ trống từ đàn nhà nhiều năm. Ghi chép và đổi con đực định kỳ áp dụng cho tất cả.
Mua con giống về không có lý lịch thì làm sao biết có họ hay không?
Không biết chắc được. Cách an toàn là coi con mua từ cùng một nguồn là có thể có họ với nhau, và không cho chúng phối với nhau. Con đực nên mua từ nơi khác với nơi mua con cái. Từ khi về nhà, ghi lý lịch đầy đủ cho các thế hệ sau.
Dùng thụ tinh nhân tạo có tránh hết được đồng huyết không?
Giúp tránh được nhiều, vì bạn chọn được tinh từ đực không họ hàng. Nhưng nếu đàn dùng mãi tinh của một đực, rồi dùng tiếp tinh đó cho thế hệ con gái của nó, đồng huyết vẫn xảy ra. Hãy ghi số hiệu tinh mỗi lần phối và báo cho dẫn tinh viên biết.