Cá nước ngọt ở Việt Nam có ba kiểu đẻ trứng chính: trứng dính bám vào rong cỏ (cá chép, cá trê, cá tra), trứng trôi lơ lửng theo dòng sông (trắm cỏ, mè, trôi), và trứng nổi trên mặt nước trong tổ (cá lóc, cá rô đồng, cá sặc). Ngoài ra rô phi ngậm trứng trong miệng, còn một số cá cảnh như bảy màu đẻ ra con. Kiểu đẻ quyết định cá cần nơi đẻ thế nào, trứng cần gì để nở, và vì sao có loài tự đẻ trong ao, có loài không.
Hiểu chuyện này giúp người nuôi trả lời những câu hỏi rất đời thường: hạt li ti bám rễ lục bình kia là gì, vì sao ao toàn trắm mà chưa bao giờ có trắm con, vì sao trứng cá trong chậu trắng đục rồi mốc.
Ba kiểu trứng và các loài tiêu biểu
Bảng sau xếp các loài quen thuộc theo kiểu trứng. Một số loài nằm giữa hai kiểu, chẳng hạn trứng dính nhẹ, nhưng xếp như vậy đủ để hiểu nguyên lý.
| Kiểu trứng | Loài tiêu biểu | Cần gì để nở | Cá bố mẹ có giữ không |
|---|---|---|---|
| Trứng dính | Cá chép, cá trê, cá tra, cá vàng | Giá thể để bám, nước sạch có oxy | Chép không giữ; trê giữ tổ |
| Trứng trôi | Trắm cỏ, mè trắng, mè hoa, trôi | Dòng chảy liên tục để trứng lơ lửng | Không giữ |
| Trứng nổi | Cá lóc, cá rô đồng, cá sặc | Mặt nước yên, có cỏ hoặc tổ bọt che | Lóc và sặc giữ; rô đồng không |
| Ngậm trong miệng | Cá rô phi | Cá mẹ đảo trứng trong miệng | Cá mẹ giữ tới khi cá con tự bơi |
| Đẻ con | Cá bảy màu, cá kiếm, cá mún | Trứng phát triển trong bụng mẹ | Không giữ, cá bố mẹ còn ăn con |
Có một quy luật khá rõ: loài nào đẻ nhiều trứng và không giữ con thì trứng nhỏ, tỷ lệ sống ngoài tự nhiên thấp; loài nào giữ tổ, ngậm trứng hay đẻ con thì số con mỗi lứa ít hơn nhiều nhưng tỷ lệ sống cao hơn.
Trứng dính: cá chép đẻ như thế nào
Cá chép đến kỳ thường đẻ từ khuya tới rạng sáng, ở chỗ nước nông có rong, cỏ ngập hoặc rễ bèo. Một con cá cái bị vài con đực rượt sát, cá quẫy mạnh, trứng và tinh phóng ra cùng lúc. Trứng gặp nước thì lớp vỏ ngoài trở nên dính, bám chặt vào bất cứ thứ gì nó chạm vào: lá rong, rễ lục bình, cành cây chìm.
Trứng chép bám thành lớp trên giá thể, trong hoặc vàng nhạt. Thời gian nở phụ thuộc nhiệt độ nước, thường chỉ vài ngày; nước ấm nở nhanh hơn, nước lạnh chậm hơn. Trong lúc đó trứng cần nước sạch, có oxy và không bị cá khác ăn. Ngoài ao, cá chép bố mẹ và các loài khác ăn rất nhiều trứng, nên chỉ một phần nhỏ nở thành cá con.
Trong trại giống, người ta đặt giá thể nhân tạo như rễ lục bình đã rửa sạch, xơ dừa, chùm sợi lưới vào bể đẻ. Cá đẻ xong, giá thể có trứng được chuyển sang nơi ấp riêng để tránh cá bố mẹ ăn trứng.
Với cá tra, trứng cũng dính nhưng trại lại muốn ấp trứng trong bình có nước chảy, nên phải khử độ dính trước khi ấp. Đây là thao tác kỹ thuật của trại; điểm đáng biết là cùng là trứng dính, mỗi loài được xử lý khác nhau tuỳ cách ấp.
Trứng trôi: vì sao trắm, mè không tự đẻ trong ao
Trắm cỏ, mè trắng, mè hoa, trôi có nguồn gốc từ các con sông lớn. Ngoài tự nhiên, vào mùa lũ, chúng ngược dòng tìm những đoạn sông nước chảy mạnh để đẻ. Trứng vừa đẻ ra hút nước rất nhanh, trương to lên nhiều lần, nặng xấp xỉ nước nên lơ lửng được trong dòng chảy. Trong lúc trôi xuôi, phôi phát triển và nở thành cá bột ở hạ lưu.
Chính vì vậy, trứng trôi cần dòng nước chảy liên tục. Rơi vào nước tĩnh, trứng chìm xuống đáy, bị bùn phủ, thiếu oxy và chết. Ao nuôi không có dòng chảy, không có tín hiệu lũ, nên cá trắm, mè dù có thể chín trứng vẫn không đẻ.
Trại giống giải quyết bằng cách chủ động cho đẻ và ấp trứng trong bể tròn hoặc bình ấp có nước chảy vòng hay chảy từ dưới lên, giữ cho trứng luôn lơ lửng. Trứng loài này nở nhanh, thường chỉ khoảng một tới hai ngày ở nước ấm, nên người ấp phải theo dõi liên tục.
Điều này cũng giải thích vì sao những thay đổi lớn trên dòng sông như ngăn đập, nạo vét bãi đẻ hay thay đổi chế độ lũ có thể ảnh hưởng tới nguồn cá tự nhiên: cá không còn đoạn sông phù hợp để đẻ, hoặc trứng không còn đủ quãng trôi để nở.
Trứng nổi và tổ trên mặt nước
Cá lóc chọn vùng nước nông nhiều cỏ vào mùa mưa, cắn và dọn cỏ thành một khoảng trống tròn trên mặt nước rồi đẻ vào đó. Trứng cá lóc có giọt dầu nên nổi, màu vàng, tụ lại thành mảng. Cá bố mẹ canh ngay bên dưới, tấn công bất cứ thứ gì lại gần, kể cả con người lội qua.
Cá sặc làm tổ bằng bọt khí trộn chất nhầy, trứng được giữ trong đám bọt, cá đực canh tổ. Cách làm tổ bọt này giống cá betta, loài cá cảnh có bài riêng trên trang.
Cá rô đồng thì đẻ trứng nổi nhưng không làm tổ, không giữ con. Trứng tản ra trên mặt ruộng mới ngập, nở nhanh, cá con tự tìm thức ăn trong ruộng. Vì không có ai bảo vệ, số trứng mỗi lần đẻ phải nhiều để bù lại tỷ lệ hao hụt.
Với người làm ruộng, cá lóc giữ tổ là cảnh quen; nếu thấy một đám cỏ trụi tròn có cá lớn lượn bên dưới vào mùa mưa, tốt nhất là tránh lội qua và không chọc phá tổ.
Trứng nổi có cái lợi là luôn ở tầng nước nhiều oxy, nhưng cũng phơi ra trước nắng, mưa và chim, ếch, côn trùng nước. Vì vậy những loài để trứng nổi mà không giữ tổ thường đẻ đúng lúc ruộng vừa ngập, khi kẻ ăn trứng chưa kịp kéo tới, còn những loài giữ tổ như cá lóc thì chịu bỏ ăn nhiều ngày để canh trứng.
Ngậm trứng và đẻ con: giữ con ngay trong cơ thể
Rô phi đi theo một hướng khác hẳn. Cá đực đào một ổ lòng chảo ở đáy ao nông, cá cái đẻ trứng vào ổ, cá đực thụ tinh, rồi cá cái ngậm toàn bộ trứng vào miệng. Trong những ngày trứng phát triển, cá mẹ liên tục đảo trứng trong miệng cho thoáng nước và gần như nhịn ăn. Cá con nở ra vẫn quay lại trú trong miệng mẹ mỗi khi có động, cho tới khi đủ lớn để tự lo.
Nhờ cách giữ con này, rô phi đẻ mỗi lần không nhiều trứng nhưng tỷ lệ sống rất cao, lại đẻ được nhiều lứa trong năm. Đó là lý do ao rô phi rất nhanh đầy cá con, một chuyện có bài riêng trên trang.
Cá bảy màu, cá kiếm, cá mún thì thụ tinh trong bụng mẹ, trứng phát triển trong cơ thể và cá mẹ đẻ ra cá con đã biết bơi. Đây là kiểu sinh sản thường gặp ở cá cảnh, cũng có bài riêng. Điểm chung của hai cách này là đầu tư vào ít con nhưng bảo vệ kỹ, trái ngược với cá trắm, cá mè thả hàng chục vạn trứng vào dòng sông và để may rủi quyết định.
Từ trứng tới cá bột: những gì xảy ra trong mấy ngày đầu
Dù trứng dính, trôi hay nổi, quá trình bên trong quả trứng đều đi qua những bước giống nhau:
- Trứng gặp tinh trùng trong nước và được thụ tinh trong thời gian rất ngắn sau khi đẻ; trứng không thụ tinh vẫn trông bình thường lúc đầu.
- Phôi phân chia, hình thành dần; nhìn kỹ dưới ánh sáng có thể thấy chấm mắt và thân phôi cong trong vỏ.
- Phôi bắt đầu cử động, rồi phá vỏ chui ra thành cá bột, còn mang túi noãn hoàng to ở bụng.
- Mấy ngày đầu cá bột chưa ăn, sống nhờ noãn hoàng, chủ yếu nằm yên hoặc bám vào giá thể.
- Khi noãn hoàng gần hết, cá bột bơi ngang và bắt đầu tìm thức ăn tự nhiên rất nhỏ trong nước.
Từ lúc cá bột biết ăn trở đi là giai đoạn ương nuôi, một nghề riêng với ao ương, thức ăn và mật độ, đã có ở các trang chuyên về cá giống. Ở đây chỉ dừng ở quả trứng và cá bột vừa nở.
Vì sao trứng hỏng và nấm trứng
Trứng không thụ tinh. Sau một thời gian, trứng không thụ tinh chuyển trắng đục, mất vẻ trong. Đây là chuyện bình thường, mẻ trứng nào cũng có một phần như vậy.
Nấm lan từ trứng chết. Trứng chết là nơi nấm nước phát triển, tạo thành những sợi trắng như bông, rồi lan sang trứng tốt bên cạnh. Vì vậy trại ấp phải loại bớt trứng hỏng và giữ nước sạch, chảy nhẹ.
Thiếu oxy. Trứng dính bám quá dày thành nhiều lớp, trứng trôi bị chìm xuống đáy, đều thiếu oxy và chết hàng loạt.
Nhiệt độ thay đổi đột ngột. Một trận mưa lạnh hay nắng gắt làm nước nóng lên nhanh có thể làm hỏng cả mẻ trứng đang phát triển. Chậu ấp đặt ngoài nắng là lỗi rất hay gặp của người mới.
Cá bố mẹ yếu. Trứng từ cá mẹ nuôi vỗ kém thường nhỏ, noãn hoàng nghèo, tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở đều thấp. Nhiều mẻ trứng hỏng không do khâu ấp mà do khâu chuẩn bị cá bố mẹ từ mấy tháng trước.
Thấy trứng cá trong ao nhà thì làm gì
Phần lớn hộ nuôi cá thịt không cần cá con, nhưng có hộ lại muốn giữ một ít để thả lại. Tuỳ mục đích, bạn làm theo thứ tự:
- Xác định loài: trứng bám rễ bèo, rong vào mùa xuân thường là cá chép; mảng trứng vàng nổi giữa đám cỏ trụi là cá lóc; ổ lòng chảo dưới đáy là rô phi.
- Nếu không cần cá con: vớt bớt rong, bèo có trứng, đem phơi khô hoặc ủ làm phân; không cần dùng hoá chất gì.
- Nếu muốn giữ: nhẹ nhàng chuyển giá thể có trứng sang chậu, bể hay ao nhỏ riêng, nước lấy từ chính ao đó, đặt nơi râm mát.
- Loại dần trứng trắng đục để nấm không lan; giữ nước sạch, có sục khí nhẹ nếu được.
- Khi cá bột bơi được và bắt đầu ăn, chuyển sang cách chăm cá bột theo hướng dẫn của người có kinh nghiệm ương cá.
Với tổ cá lóc, cách an toàn nhất là để nguyên, không chọc phá; nếu ao không muốn có thêm cá lóc, xử lý sau khi đàn con đã tách mẹ và bạn tát ao theo kế hoạch.
Câu hỏi thường gặp
Trứng cá chép bao lâu thì nở?
Thường chỉ vài ngày, phụ thuộc nhiệt độ nước: nước ấm nở nhanh, nước lạnh chậm hơn. Trong thời gian đó trứng cần nước sạch, có oxy và được che khỏi cá lớn ăn trứng. Cá bột mới nở còn sống nhờ noãn hoàng vài ngày trước khi biết ăn.
Hạt li ti bám ở rễ lục bình trong ao là gì?
Vào mùa cá đẻ, đó rất có thể là trứng cá chép hoặc một loài đẻ trứng dính khác. Trứng tốt trong hoặc vàng nhạt, trứng hỏng trắng đục. Nếu không muốn ao thêm cá con, bạn có thể vớt bớt bèo có trứng.
Vì sao ao nuôi trắm cỏ không có trắm con?
Trắm cỏ đẻ trứng trôi, cần dòng chảy mạnh để trứng lơ lửng và nở. Ao tĩnh không có điều kiện này nên cá không tự đẻ, dù có thể chín trứng. Cá giống trắm cỏ đều do trại giống cho đẻ và ấp trong bể có nước chảy.
Có thể tự ấp trứng cá chép ở nhà không?
Về nguyên lý là được với giá thể có trứng đặt trong chậu lớn, nước sạch có sục khí nhẹ, tránh nắng gắt. Tuy vậy trứng dễ nấm và cá bột cần thức ăn rất nhỏ ngay khi hết noãn hoàng, nên tỷ lệ sống thường thấp nếu không có kinh nghiệm.
Trứng cá bị mốc trắng là do đâu?
Thường do nấm nước mọc trên trứng không thụ tinh hoặc trứng chết, rồi lan sang trứng tốt. Nước bẩn, trứng bám quá dày và thiếu oxy làm nấm phát triển nhanh. Cách phòng là giữ nước sạch, loại bớt trứng hỏng sớm.
Cá lóc giữ tổ có nguy hiểm cho người không?
Cá lóc bố mẹ rất hung khi giữ tổ và đàn con, có thể lao lên cắn khi người lội sát. Vết cắn thường không nặng nhưng dễ nhiễm trùng. Thấy tổ cá lóc ở ruộng, bờ ao, nên tránh lội qua và không chọc phá.