GiaoPhoi.comGiao Phối Vật Nuôi
Cá sinh sản

Nuôi vỗ cá bố mẹ là gì: ao vỗ, thức ăn theo loài và cách biết cá đã chín trứng

Nuôi vỗ cá bố mẹ là gì, vì sao cá béo chưa chắc chín trứng, chọn cá đưa vào vỗ, ao vỗ, thức ăn cho chép, trắm, mè, rô phi, cá lóc và việc sau mùa đẻ.

A farmer tossing armfuls of fresh cut grass into a calm brood pond in Bac Ninh at dusk, large fish rippling the surface, seen from behind on the earthen bank

Nuôi vỗ cá bố mẹ là nuôi riêng những con cá đã đủ tuổi sinh sản, trong ao thưa, nước sạch, với khẩu phần đủ đạm và đúng loài, suốt vài tháng trước mùa đẻ, để tuyến sinh dục phát triển đầy đủ và trứng, tinh chín đều. Đây là khâu quyết định số lượng và chất lượng trứng; trại giống cho đẻ giỏi tới đâu mà cá bố mẹ vỗ kém thì trứng ít, tỷ lệ nở thấp, cá bột yếu.

Cá bố mẹ không giống cá thịt. Cá thịt được cho ăn để lớn nhanh, tích mỡ; cá bố mẹ được cho ăn để dồn dinh dưỡng vào trứng. Một con cá béo mỡ bóng bẩy có khi lại đẻ kém. Bài này nói nguyên lý nuôi vỗ ở mức người nuôi hiểu được, không thay cho quy trình kỹ thuật của từng trại.

Nuôi vỗ để làm gì và vì sao không bỏ qua được

Trứng cá được tạo ra từ chất dinh dưỡng cá ăn vào trong nhiều tháng. Noãn hoàng, phần lòng đỏ nuôi phôi và cá bột mấy ngày đầu, chính là đạm, mỡ và khoáng mà cá mẹ tích lại. Cá mẹ ăn thiếu hoặc ăn lệch thì trứng nhỏ, ít, noãn hoàng nghèo, cá bột nở ra yếu và chết nhiều trước khi biết ăn.

Với cá đực, nuôi vỗ quyết định lượng tinh và sức sống của tinh trùng. Cá đực gầy hoặc bị nuôi chen chúc thường cho ít tinh, làm tỷ lệ thụ tinh giảm dù cá cái đẻ tốt.

Nuôi vỗ còn có một mục đích ít ai để ý: làm cho cả đàn chín đều. Nếu cá chín lệch nhau, trại phải cho đẻ nhiều đợt nhỏ, tốn công và khó lên kế hoạch. Ao vỗ ổn định, khẩu phần đều, cá cùng loài nuôi cùng điều kiện sẽ vào mùa gần nhau hơn.

Ở quy mô nông hộ có ao nuôi thả rông, người ta không gọi là nuôi vỗ, nhưng nguyên lý vẫn vậy: muốn cá chép trong ao đẻ tốt vào mùa xuân thì từ mùa thu trước đó cá phải được ăn đủ, không bị nuôi quá dày.

Chọn cá đưa vào nuôi vỗ

Cá đưa vào ao vỗ nên được chọn ngay từ đầu mùa vỗ, vì nuôi vỗ một con cá không đạt cũng tốn công như nuôi một con tốt. Những điều trại giống thường xét:

  • Đủ tuổi thành thục của loài: cá chép thành thục sớm, trắm cỏ và mè cần thời gian dài hơn nhiều. Tuổi thành thục còn thay đổi theo vùng; ở nơi ấm, cá thường thành thục sớm hơn nơi lạnh.
  • Thân hình cân đối, không dị hình, không cong cột sống, vây đủ, vảy xếp đều, không trầy xước lớn.
  • Bơi nhanh nhẹn, phản xạ tốt khi bị dồn, không có dấu hiệu bệnh như xuất huyết, lở loét, nấm.
  • Rõ nguồn gốc: trại có sổ ghi lứa, nguồn cá, năm cho đẻ; tránh lấy cá bố mẹ từ cùng một lứa con để giảm đồng huyết.
  • Không quá già: cá bố mẹ để quá nhiều năm thường đẻ kém đi, trại có kế hoạch thay đàn dần.
  • Tỷ lệ đực cái hợp với cách cho đẻ của loài; phần này do kỹ thuật của trại quyết định.

Chọn và mua cá bố mẹ từ bên ngoài là việc của người mua con giống, có nhiều điều khoản riêng; ở đây chỉ bàn tiêu chí sinh học để vào ao vỗ.

Ao nuôi vỗ khác ao nuôi thịt ở chỗ nào

Ao vỗ cần nước sạch và ổn định hơn ao nuôi thịt. Trước mùa vỗ, ao thường được tát cạn, vét bớt bùn, phơi đáy, rắc vôi theo hướng dẫn kỹ thuật rồi mới lấy nước vào. Nguồn nước cấp phải chủ động, có thể thay một phần nước khi cần, không phụ thuộc hoàn toàn vào nước mưa.

Mật độ thả trong ao vỗ thưa hơn nhiều so với ao nuôi thịt. Cá bố mẹ to, cần nhiều oxy, và nuôi dày khiến cá stress, tranh ăn, chín trứng kém. Các trại thường tính mật độ theo khối lượng cá trên diện tích ao chứ không theo số con.

Nhiều trại nuôi vỗ riêng từng loài, hoặc ghép một loài chính với một ít loài phụ ăn thức ăn khác nhau để tận dụng ao. Với cá dễ đẻ lạc trong ao như cá chép, người ta còn tách đực cái ở giai đoạn cuối để cá không tự đẻ trước khi trại chủ động cho đẻ; muốn vậy cần biết phân biệt đực cái, có bài riêng trên trang.

Ao vỗ nên yên tĩnh, ít người qua lại, không kéo lưới thường xuyên. Mỗi lần kéo lưới kiểm tra là một lần cá bị dồn ép, xây xát, mất ăn mấy ngày.

Thức ăn nuôi vỗ theo từng loài

Mỗi loài có thức ăn tự nhiên riêng, nên khẩu phần nuôi vỗ cũng khác nhau. Bảng dưới chỉ nêu nguyên lý; lượng cho ăn, tỷ lệ đạm và lịch cụ thể theo hướng dẫn kỹ thuật của trại hoặc cán bộ khuyến nông.

LoàiThức ăn chính khi nuôi vỗLưu ý
Cá chépThức ăn tinh giàu đạm như cám viên, ngũ cốc nấu chín, kèm động vật đáy tự nhiênDễ béo mỡ nếu cho nhiều tinh bột
Trắm cỏCỏ, lá, rau xanh tươi là chính, bổ sung thức ăn tinhThiếu cỏ xanh thì cá chín trứng kém
Mè trắngTảo trong nước, nhờ gây màu nước bằng phân hữu cơ đã ủ hoaiMàu nước phải giữ ổn định, không để quá đặc
Mè hoaĐộng vật phù du trong nướcThường ghép trong ao có màu nước tốt
Rô phiThức ăn viên công nghiệp, kèm thức ăn tự nhiênCá dễ tự đẻ trong ao vỗ nếu nước ấm
Cá lóc, cá trêThức ăn đạm cao: cá tạp tươi sạch hoặc thức ăn viên cho cá ăn thịtKhông dùng cá tạp ươn thối, dễ gây bệnh

Điểm chung của mọi khẩu phần nuôi vỗ là đủ đạm và đủ chất xanh hay thức ăn tự nhiên, chứ không phải nhiều tinh bột. Thức ăn ôi, mốc, cá tạp ươn là nguồn bệnh lớn nhất trong ao vỗ.

Hai giai đoạn của một mùa vỗ

Các trại thường chia mùa vỗ thành hai giai đoạn. Giai đoạn đầu là tích luỹ: cho ăn đầy đủ, cá phục hồi sau mùa đẻ trước và dồn dinh dưỡng cho tuyến sinh dục. Giai đoạn này dài, thường kéo qua mấy tháng.

Giai đoạn sau là chuyển sang thành thục: gần tới mùa đẻ, trại giảm bớt thức ăn tinh để cá không tích mỡ thừa, tăng thức ăn xanh hoặc thức ăn tự nhiên, và thường cho nước mới vào ao hoặc tạo dòng chảy nhẹ một số buổi. Việc tạo nước mới này mô phỏng tín hiệu mùa mưa, giúp tuyến sinh dục chín nốt. Người trong nghề quen gọi là kích nước.

Ở miền Bắc, mùa vỗ cho cá chép, trắm thường bắt đầu từ mùa thu và đi qua mùa đông, để kịp cho đẻ vào mùa xuân. Ở miền Nam, nhiệt độ ấm quanh năm nên có trại cho đẻ nhiều đợt, nuôi vỗ lại sau mỗi đợt. Lịch cụ thể của từng trại tuỳ loài, tuỳ vùng và kinh nghiệm của kỹ thuật viên.

Điều đáng nhớ là hai giai đoạn này đi liền với nhau. Giai đoạn đầu cho ăn thiếu thì giai đoạn sau có kích nước khéo tới đâu cá cũng không chín đủ; ngược lại, giai đoạn đầu tốt mà giai đoạn sau vẫn cho ăn dồn thức ăn tinh thì cá dễ tích mỡ, đến ngày cho đẻ phản ứng kém. Nhiệt độ nước trong cả mùa vỗ cũng ảnh hưởng mạnh: năm rét kéo dài, cá chín muộn hơn kế hoạch và trại phải lùi lịch.

Biết cá đã chín trứng hay chưa

Nhìn và sờ bụng. Cá cái chín có bụng to, phình đều, sờ mềm; lật ngửa thấy buồng trứng lộ rõ hai bên. Lỗ sinh dục sưng và hồng. Cá đực vuốt nhẹ có tinh trắng chảy ra.

Kiểm tra mẫu trứng. Trại giống dùng một dụng cụ nhỏ lấy vài hạt trứng qua lỗ sinh dục để xem độ đều và độ chín. Đây là thao tác của kỹ thuật viên; làm sai có thể gây tổn thương cho cá, người nuôi không nên tự thử.

Đừng nhìn độ béo. Cá béo tròn, thân dày mỡ không đồng nghĩa với chín trứng. Cá tích nhiều mỡ quanh nội tạng thường đẻ kém hơn cá vừa phải.

Kiểm ít mà chắc. Mỗi lần kéo lưới kiểm tra làm cá mất sức. Trại thường chỉ kiểm vài lần quanh thời điểm dự kiến, mỗi lần trên một số con đại diện, không bắt cả đàn.

Những sai lầm hay gặp khi nuôi vỗ

Bắt đầu quá muộn. Tuyến sinh dục cần thời gian dài để phát triển. Nhiều hộ chỉ nhớ tới cá bố mẹ khi đã sát mùa đẻ, cho ăn dồn dập vài tuần rồi mong cá chín. Kết quả thường là cá béo lên nhưng trứng không kịp đầy.

Nuôi chung với cá thịt. Thả cá bố mẹ lẫn trong ao cá thịt dày đặc khiến chúng phải tranh ăn, nước lại bẩn, oxy thấp vào rạng sáng. Cá bố mẹ cần ao riêng, hoặc ít nhất là ao thưa.

Thức ăn kém chất lượng. Cám mốc, cá tạp để qua đêm, rau dập úng mang theo mầm bệnh. Ao vỗ một khi đã bệnh thì mất cả mùa, vì cá bố mẹ bệnh dậy thường đẻ rất kém.

Kiểm tra quá nhiều. Sốt ruột muốn biết cá chín chưa nên tuần nào cũng kéo lưới. Mỗi lần như vậy cá mất ăn, xây xát, có khi đẻ lạc ngay trong lưới. Trại có kinh nghiệm chỉ kiểm khi lịch và dấu hiệu bên ngoài cho thấy sắp tới lúc.

Không ghi chép. Không có sổ thì năm sau lại đoán lại từ đầu, không biết con nào đẻ tốt, ao nào hợp.

Sau mùa đẻ: nuôi vỗ phục hồi và giữ sổ cá bố mẹ

Cá vừa đẻ xong rất yếu, dễ bị nấm và nhiễm khuẩn ở chỗ xây xát. Mấy việc nên làm ngay sau đợt đẻ:

  1. Thả cá trở lại ao sạch, nước tốt, mật độ thưa; tách những con bị thương để theo dõi riêng.
  2. Cho ăn lại từ từ, tăng dần khẩu phần trong vài ngày, ưu tiên thức ăn dễ tiêu.
  3. Quan sát hằng ngày: cá có vết loét, nấm trắng như bông, bơi lờ đờ thì báo cán bộ thú y thủy sản, không tự ý dùng thuốc.
  4. Ghi sổ cho từng nhóm cá: ngày đẻ, ước lượng trứng, tỷ lệ nở, tình trạng sau đẻ.
  5. Đánh dấu những con đẻ kém nhiều mùa liền để loại dần, thay bằng cá hậu bị đã chuẩn bị.

Sổ cá bố mẹ ghi đều qua vài năm là tài sản của trại: nó cho biết con nào đáng giữ, ao nào vỗ tốt, năm nào thời tiết làm cá chín lệch. Với các cơ sở sản xuất giống thủy sản, Luật Thủy sản 2017 và các văn bản hướng dẫn có đặt điều kiện về cơ sở và nguồn cá bố mẹ; bạn nên kiểm văn bản hiện hành hoặc hỏi cơ quan thủy sản của tỉnh.

Câu hỏi thường gặp

Nuôi vỗ cá bố mẹ mất bao lâu?

Thường kéo dài vài tháng trước mùa đẻ, chia thành giai đoạn tích luỹ và giai đoạn chuyển sang thành thục. Thời gian cụ thể khác nhau theo loài, theo vùng và theo kế hoạch của trại; ở miền Bắc cá chép, trắm thường được vỗ qua mùa thu đông để đẻ vào mùa xuân.

Ao nuôi thịt có dùng làm ao vỗ được không?

Được nếu cải tạo lại: tát cạn, vét bùn, phơi đáy, lấy nước sạch, thả thưa hơn nhiều và chủ động thay nước. Ao nuôi thịt để nguyên mật độ dày và nước bẩn thì cá khó chín trứng tốt.

Vì sao cá béo mà đẻ ít?

Cá cho ăn nhiều tinh bột tích mỡ quanh nội tạng, tuyến sinh dục lại không được nuôi đủ đạm. Cá trông khoẻ nhưng trứng ít và kém chất lượng. Vì vậy giai đoạn cuối mùa vỗ, trại thường giảm thức ăn tinh và tăng thức ăn xanh, thức ăn tự nhiên.

Có nên cho thuốc kích thích để cá chín nhanh?

Không nên tự làm. Việc dùng chất kích thích sinh sản cho cá thuộc kỹ thuật của trại giống, có liều và quy trình riêng, làm sai có thể hỏng cả đàn cá bố mẹ. Người nuôi chỉ nên tập trung vào thức ăn, nước và mật độ.

Cá bố mẹ dùng được bao nhiêu năm?

Tuỳ loài và tình trạng từng con. Cá bố mẹ có xu hướng đẻ kém dần khi đã quá già hoặc sau nhiều mùa đẻ dày. Trại thường theo dõi bằng sổ và thay đàn dần bằng cá hậu bị, không thay một lần toàn bộ.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.