Phần lớn cá nước ngọt nuôi và sống tự nhiên ở Việt Nam đẻ rộ vào hai mốc: khi nước ấm lên sau mùa lạnh (rõ nhất ở miền Bắc, mùa xuân) và khi mưa đầu mùa đổ về, nước mới dâng (rõ nhất ở miền Nam và vùng lũ). Cá chép đẻ mạnh vào mùa xuân, có nơi đẻ thêm một đợt cuối hè sang thu; cá lóc, cá rô đồng, cá trê đẻ theo mùa mưa; rô phi đẻ gần như quanh năm khi nước đủ ấm; còn trắm cỏ, mè, trôi cần dòng sông chảy mạnh mùa lũ nên gần như không tự đẻ trong ao.
Biết mùa đẻ của từng loài giúp bạn hiểu vì sao ao nhà bỗng đầy cá con, vì sao cá bố mẹ trong ao ăn ít đi, và vì sao có những tháng nên hạn chế kéo lưới. Bài này đi từ những yếu tố đánh thức cá, qua lịch đẻ thường gặp của các loài quen thuộc, tới dấu hiệu nhận biết và việc nên làm.
Điều gì đánh thức cá vào mùa đẻ
Cá không đẻ theo lịch trên giấy mà theo tín hiệu của môi trường. Tín hiệu đầu tiên là nhiệt độ nước. Trong mùa lạnh, cá vẫn tích luỹ dinh dưỡng và tuyến sinh dục vẫn lớn dần, nhưng phải tới khi nước ấm lên qua một ngưỡng nhất định thì trứng mới chín hẳn và cá mới chịu đẻ. Mỗi loài có ngưỡng riêng; cá chép chịu đẻ ở nước mát hơn so với nhiều loài cá nhiệt đới.
Tín hiệu thứ hai là nước mới. Trận mưa lớn đầu mùa làm mực nước dâng, nước đục phù sa, nhiệt độ và độ khoáng thay đổi, ruộng và bãi cỏ ven bờ bị ngập. Với cá lóc, cá rô, cá trê, đó là lời mời ra vùng nước nông có cỏ để làm tổ. Người nuôi lâu năm vẫn nói "mưa dầm thì cá đẻ", và câu đó đúng ở chỗ nước mới là cú hích cuối cùng với những con cá đã sẵn trứng.
Tín hiệu thứ ba là dòng chảy và độ dài ngày. Trắm cỏ, mè trắng, mè hoa, trôi là cá đẻ trứng trôi theo dòng; ngoài tự nhiên chúng ngược sông lên những đoạn nước chảy xiết vào mùa lũ để đẻ, và trứng trôi xuôi trong lúc phát triển. Ao tĩnh không có dòng chảy nên những loài này thường không tự đẻ, dù trong bụng có trứng. Độ dài ngày thì ảnh hưởng âm thầm hơn, nhất là với cá cảnh nuôi trong nhà.
Cuối cùng là thể trạng của chính con cá. Cá gầy, cá vừa bệnh dậy, cá nuôi quá dày không có đủ thức ăn sẽ chậm thành thục hoặc đẻ ít. Đây là lý do các trại giống phải nuôi vỗ cá bố mẹ trước mùa đẻ, một việc có bài riêng trên trang.
Lịch đẻ thường gặp của các loài cá quen thuộc
Bảng dưới là mô tả chung, không phải mốc cố định. Cùng một loài, ở miền Bắc và miền Nam, năm rét đậm hay năm ấm, ao nông hay ao sâu, thời điểm đẻ có thể lệch nhau cả tháng. Muốn biết sát cho địa phương mình, bạn nên hỏi cán bộ khuyến nông hoặc các hộ nuôi lâu năm quanh vùng.
| Loài | Mùa đẻ thường gặp | Đẻ ở đâu khi tự nhiên | Kiểu trứng |
|---|---|---|---|
| Cá chép | Mùa xuân là chính; ở miền Bắc có nơi đẻ thêm đợt cuối hè, đầu thu | Vùng nước nông có rong, cỏ ngập | Trứng dính vào rong cỏ |
| Cá rô phi | Gần như quanh năm khi nước ấm, ngưng khi rét | Đáy ao nông, cá đực đào ổ lòng chảo | Cá cái ngậm trứng trong miệng |
| Cá lóc (cá quả) | Mùa mưa | Vùng cỏ ven bờ, ruộng ngập | Trứng nổi trong ổ trên mặt nước |
| Cá rô đồng | Đầu mùa mưa | Ruộng, mương mới ngập nước | Trứng nổi, không giữ con |
| Cá trê | Mùa mưa | Hang, hốc đào ở bờ ao, bờ ruộng | Trứng dính ở đáy tổ |
| Trắm cỏ, mè, trôi | Mùa lũ trên sông lớn | Đoạn sông nước chảy mạnh | Trứng trôi theo dòng, không tự đẻ trong ao tĩnh |
| Cá tra | Mùa lũ ở thượng nguồn sông Mê Kông | Ngoài tự nhiên ở thượng nguồn; nuôi thì do trại cho đẻ | Trứng dính |
Nhìn bảng, bạn thấy một quy luật đơn giản: loài nào đẻ được ở nơi nước đứng, có cỏ, có bờ thì cũng dễ tự đẻ trong ao nhà; loài nào cần dòng sông lớn thì phải nhờ đến trại giống. Đó cũng là lý do giống trắm, mè, tra gần như đều đến từ sinh sản nhân tạo.
Miền Bắc và miền Nam khác nhau thế nào
Ở miền Bắc, mùa đông lạnh tạo ra một khoảng nghỉ rõ ràng. Cá ăn ít, lớn chậm, rồi khi trời ấm dần sau Tết, nước ao lên nhiệt, cá chép bắt đầu đuổi nhau ở ven bờ. Đợt đẻ xuân thường tập trung và dễ đoán. Một số hộ thấy cá chép đẻ thêm vào cuối hè, nhưng đợt này thường thưa hơn. Trong năm rét đậm kéo dài, mùa đẻ lùi lại; năm ấm thì đến sớm.
Ở Nam Bộ và Tây Nguyên, nhiệt độ ít thay đổi theo mùa nên mốc rõ nhất là mùa mưa. Những trận mưa lớn đầu mùa, thường rơi vào khoảng tháng tư, tháng năm, tuỳ năm, là lúc cá lóc, cá rô, cá trê ở ruộng vườn bắt đầu đẻ. Vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long như An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ còn có nhịp riêng: nhiều loài cá đồng sống nhờ con nước lũ đổ về hằng năm, cá con theo nước tràn đồng để kiếm ăn.
Miền Trung nằm giữa hai kiểu đó, lại có mùa mưa lệch về cuối năm, nên lịch đẻ của cá đồng không trùng với miền Nam. Cùng một tên cá, đừng lấy kinh nghiệm vùng này áp nguyên sang vùng khác. Ghi lại vài năm liền ao nhà thấy cá con vào tháng nào là cách tốt nhất để có lịch riêng cho mình.
Dấu hiệu cá trong ao sắp đẻ hoặc đang đẻ
Cá đẻ thường vào lúc rạng sáng hoặc sau mưa, khi ao yên. Nếu bạn ra ao sớm vài buổi trong mùa, những dấu hiệu sau khá dễ thấy:
- Cá đuổi nhau thành từng nhóm sát mép cỏ, quẫy mạnh làm nước tung lên, thường là một con cái bị vài con đực bám theo; đây là cảnh quen thuộc của cá chép.
- Ở chỗ nước nông, đáy ao xuất hiện những vũng tròn lõm sạch bùn như cái chảo nhỏ, có cá rô phi đực màu đậm lượn quanh và đuổi con khác ra xa.
- Một vùng cỏ ven bờ bị cắn trụi thành khoảng tròn trên mặt nước, có cá lớn quanh quẩn bên dưới: dấu hiệu cá lóc đang làm tổ.
- Trên rong, rễ bèo hoặc cành cây ngập có những hạt trứng nhỏ trong hoặc vàng nhạt bám thành lớp.
- Cá bố mẹ ăn ít hẳn đi mấy hôm, rồi sau đó ăn mạnh trở lại.
- Vài tuần sau, ven bờ có những đàn cá con li ti bơi sát mặt nước, hoặc một đàn cá con màu đỏ cam bơi cụm quanh con cá lóc lớn.
Những dấu hiệu này cho biết cá đã đến kỳ. Bạn không cần can thiệp; việc của người nuôi chủ yếu là quyết định có muốn giữ đàn cá con hay không, như phần tiếp theo.
Việc nên làm với ao nhà trong mùa cá đẻ
Ao nuôi cá thịt không phải trại giống, nên mục tiêu là giữ ao ổn định chứ không phải nhân giống. Một trình tự hợp lý:
- Xác định trước ao nuôi để làm gì. Ao cá thịt mật độ vừa phải thì lứa cá con tự nhiên thường làm cá tranh thức ăn và oxy; ao thả nuôi thả rông lấy cá ăn quanh năm thì có thể giữ lại một phần.
- Hạn chế kéo lưới, tát ao, khuấy bùn trong những tuần cá đang đẻ, để cá bố mẹ không bị dồn ép và mất sức.
- Theo dõi nước sau những trận mưa lớn đầu mùa: nước mưa đổ vào làm nước ao đổi tính chất nhanh, cá dễ nổi đầu vào rạng sáng.
- Nếu không muốn ao đầy cá con, vớt bớt rong, bèo nơi cá chép đẻ trứng; với rô phi thì tính chuyện thu tỉa cá con định kỳ.
- Nếu muốn giữ cá con cho lứa sau, tách chúng sang một ao nhỏ hoặc vèo riêng, vì cá lớn trong ao sẽ ăn phần lớn cá con.
- Ghi lại ngày thấy cá đẻ, loài nào, thời tiết lúc đó, để năm sau đoán trước được.
Cách nuôi ao, chọn loài, xử lý nước đã có ở các trang chuyên về nuôi cá ao; ở đây chỉ bàn phần gắn với mùa sinh sản.
Mùa sinh sản ngoài tự nhiên và chuyện đánh bắt
Mùa cá đẻ cũng là mùa cá dễ bắt nhất: cá dồn vào chỗ nông, cá lóc giữ tổ không chịu bỏ đi, cá rô ngược lên ruộng mới ngập. Bắt cá bố mẹ đúng lúc này nghĩa là lấy đi cả lứa cá của năm sau. Nhiều vùng quê đã thấy cá đồng thưa dần qua từng năm, một phần vì đánh bắt bất kể mùa và bằng ngư cụ tận diệt.
Luật Thủy sản năm 2017 có quy định về bảo vệ nguồn lợi thủy sản, trong đó có các khu vực cấm khai thác có thời hạn để bảo vệ mùa sinh sản, và nghiêm cấm những cách khai thác tận diệt như dùng chất nổ, chất độc, xung điện. Danh sách khu vực, thời gian cấm và ngư cụ bị hạn chế do cơ quan nhà nước và địa phương công bố, có thể thay đổi. Bạn nên hỏi ủy ban xã hoặc cơ quan quản lý thủy sản của tỉnh để biết quy định đang áp dụng.
Với người sống ven sông, kênh rạch, một thói quen nhỏ có ích: trong mùa đẻ, thả lại cá cái bụng căng trứng và đàn cá con, không vét các vũng nước nông nơi cá đang giữ tổ. Đó là cách giữ nguồn cá cho chính xóm mình những năm sau.
Những hiểu lầm hay gặp về mùa cá đẻ
"Cá nào cũng đẻ trong ao nếu nuôi đủ lâu." Không đúng. Trắm cỏ, mè, trôi, tra có thể chín trứng trong ao nhưng thiếu dòng chảy và tín hiệu sông lũ nên không tự đẻ. Trứng không đẻ ra được sẽ dần bị cơ thể hấp thu lại. Muốn có cá con của những loài này phải qua trại giống.
"Cá ngừng ăn là cá bệnh." Vào mùa đẻ, cá bố mẹ ăn ít vài ngày là chuyện thường. Tuy vậy, nếu cá ăn ít kèm bơi lờ đờ, nổi đầu, xuất huyết trên thân hay chết rải rác thì đó là chuyện khác, cần xem lại nước ao và hỏi cán bộ thú y thủy sản.
"Mưa lớn thì cá chắc chắn đẻ." Mưa chỉ là cú hích cuối. Nếu cá chưa đủ thành thục vì gầy hoặc nước còn lạnh, mưa xuống cá vẫn không đẻ. Ngược lại, cá đã chín trứng có khi đẻ cả sau một đợt nước mới bơm vào ao, không cần mưa.
"Ao có cá con là ao tốt." Cá con tự nhiên cho thấy cá bố mẹ khoẻ, nhưng với ao nuôi thịt, một lứa cá con quá đông lại kéo cá thương phẩm chậm lớn. Ao rô phi là ví dụ rõ nhất, có bài riêng trên trang.
Câu hỏi thường gặp
Cá chép đẻ vào tháng mấy?
Cá chép đẻ mạnh nhất vào mùa xuân khi nước ấm lên sau mùa lạnh; ở miền Bắc có nơi thấy thêm một đợt cuối hè đầu thu. Ở miền Nam, cá chép có thể đẻ rải rác dài hơn. Mốc cụ thể lệch theo năm và theo ao, nên ghi lại thực tế ao nhà vài năm sẽ sát nhất.
Vì sao ao nuôi trắm cỏ nhiều năm mà không thấy cá con?
Trắm cỏ đẻ trứng trôi, cần đoạn sông nước chảy mạnh vào mùa lũ. Ao tĩnh không có dòng chảy và tín hiệu đó nên cá thường không tự đẻ, dù có thể vẫn chín trứng. Cá giống trắm cỏ đều đến từ trại cho đẻ nhân tạo.
Cá thường đẻ vào giờ nào trong ngày?
Nhiều loài cá nước ngọt đẻ vào lúc rạng sáng hoặc ngay sau một trận mưa, khi ao yên và nước mát. Cá chép hay đẻ từ nửa đêm về sáng. Muốn quan sát, bạn ra ao sớm và đứng yên ở xa bờ, tránh làm cá giật mình.
Mùa cá đẻ có nên thả thêm cá giống vào ao không?
Nên tránh thả cá giống nhỏ vào ao đang có cá lớn đẻ và giữ tổ, vì cá bố mẹ, nhất là cá lóc, rất hung và có thể tấn công cá mới. Nếu cần thả, nên đợi qua đợt đẻ hoặc thả vào ao riêng.
Đánh bắt cá ngoài sông vào mùa sinh sản có bị cấm không?
Luật Thủy sản 2017 có quy định khu vực cấm khai thác có thời hạn để bảo vệ mùa sinh sản và nghiêm cấm khai thác bằng chất nổ, chất độc, xung điện. Khu vực và thời gian cụ thể do địa phương công bố, nên bạn cần hỏi ủy ban xã hoặc cơ quan thủy sản của tỉnh.
Rét đậm có làm cá đẻ muộn không?
Có. Năm rét đậm kéo dài, nước ao chậm ấm lên nên cá chép và nhiều loài khác đẻ muộn hơn. Cá vẫn giữ trứng chờ nước ấm. Năm ấm sớm thì mùa đẻ cũng đến sớm, có khi lệch vài tuần so với năm trước.