Vịt chuyên trứng như vịt cỏ và các dòng vịt đẻ thường bắt đầu đẻ khoảng 4,5 đến 5 tháng tuổi; vịt hướng thịt nuôi làm bố mẹ thường muộn hơn, quanh 6 tháng. Khác gà, vịt đẻ chủ yếu vào ban đêm tới rạng sáng, nên người nuôi vịt nhốt đàn qua đêm và chỉ thả sau khi phần lớn đã đẻ.
Vịt cũng khác gà ở cách giao phối: vịt trống có cơ quan giao cấu và thích đạp mái trên mặt nước. Vịt nhà phần lớn ít đòi ấp, nên trứng vịt có phôi thường được đem ấp nhân tạo. Bài này đi qua tuổi vào đẻ, giờ đẻ, dấu hiệu vịt mái sắp đẻ, chuyện vịt trống đạp mái và trứng có phôi, những gì làm vịt đẻ thất thường và lúc nào gọi thú y. Chuồng, thức ăn và phòng bệnh hằng ngày của vịt đẻ thuộc kỹ thuật nuôi vịt nói chung.
Tuổi vào đẻ thường gặp theo nhóm vịt
Mốc trong bảng là mức thường gặp ở đàn nuôi đủ ăn, khoẻ mạnh. Dòng vịt, mùa nở và cách nuôi làm sớm muộn vài tuần; muốn có mốc của giống cụ thể, hỏi cơ sở bán giống hoặc cán bộ khuyến nông.
| Nhóm vịt | Thường vào đẻ khoảng | Đặc điểm sinh sản |
|---|---|---|
| Vịt cỏ, vịt địa phương nhỏ con | 4,5 đến 5 tháng tuổi | Đẻ khá đều, rất ít đòi ấp, hợp chạy đồng |
| Vịt chuyên trứng nhập nội và vịt lai hướng trứng | Quanh 4,5 đến 5 tháng tuổi | Đẻ dày, trứng to, hầu như không ấp |
| Vịt bố mẹ hướng thịt (vịt siêu thịt) | Quanh 6 tháng tuổi | Thân nặng, số trứng ít hơn vịt chuyên trứng |
| Vịt kiêm dụng nuôi thả ao vườn | 5 đến 6 tháng tuổi | Tuỳ dòng, có con còn đòi ấp |
Mốc tuổi chỉ có ý nghĩa khi vịt đạt khối lượng và thể trạng phù hợp. Vịt nuôi thiếu ăn, nhốt chật, không có nước tắm thường vào đẻ muộn và đẻ kém. Ngược lại, ép vịt vào đẻ sớm bằng cách cho ăn quá nhiều đạm khi còn nhỏ cũng không có lợi cho cả chu kỳ đẻ.
Vịt đẻ giờ nào và vì sao phải nhốt vịt tới sáng
Phần lớn vịt mái đẻ trong khoảng từ nửa đêm tới sáng sớm, nhiều nhất vào những giờ trước và quanh lúc rạng đông. Chỉ một ít quả rơi vào giữa buổi sáng, thường ở vịt mái tơ mới vào đẻ hoặc vịt đẻ lệch nhịp. Đây là lý do người nuôi vịt đẻ thường nhốt đàn trong chuồng hoặc quây qua đêm, sáng ra nhặt trứng rồi mới lùa đàn đi ăn.
Thả vịt quá sớm, nhiều con chưa kịp đẻ sẽ đẻ rơi dọc bờ ruộng, mép ao, dưới nước. Trứng rơi xuống bùn nước vừa mất, vừa bẩn, dễ nhiễm khuẩn. Với vịt chạy đồng, người chăn hay chờ tới khi đàn đã đẻ gần hết mới lùa đi; nhìn đàn có thể biết, vì vịt chưa đẻ thường còn quanh quẩn trong quây, không háo hức ra đồng như những con đã đẻ xong.
Khác với gà mái tìm ổ kín, vịt mái thường đẻ ngay trên nền chuồng có lót rơm, trấu, có khi đẻ lăn lóc ở góc. Một số dòng chịu đẻ vào ổ nếu được tập từ lúc mới vào đẻ. Nền chuồng khô, chất độn sạch là điều kiện để trứng vịt sạch; nền ướt, nhão thì trứng dính bẩn, vỏ trứng vịt lại xốp hơn trứng gà nên dễ ngấm bẩn hơn.
Vì vịt đẻ đêm, chuồng vịt cần yên tĩnh vào ban đêm. Chó, chuột, rắn quấy chuồng lúc nửa đêm làm vịt hoảng, chạy dồn vào nhau, có con đẻ rơi trứng không vỏ, có con giẫm vỡ trứng của con khác. Một bóng đèn mờ trong chuồng giúp vịt bớt hoảng khi có tiếng động lạ.
Dấu hiệu vịt mái tơ sắp đẻ và phân biệt trống mái vịt trưởng thành
Vùng bụng sau và xương chậu. Vịt mái sắp đẻ có vùng bụng phía sau, giữa hai chân mềm và rộng ra, hai mỏm xương chậu tách xa nhau. Bắt vịt nhẹ nhàng, đỡ dưới ngực, sờ phía trước lỗ huyệt là cảm nhận được.
Lông và dáng đi. Lông vịt mái tơ sắp đẻ mượt, bóng, khít; dáng đi lạch bạch hơn, phần đuôi hạ thấp. Vịt ăn khoẻ hơn và tìm nước tắm nhiều hơn.
Tiếng kêu. Ở các giống vịt nhà có nguồn gốc vịt trời, vịt mái kêu quạc quạc to, rõ; vịt trống kêu khàn khàn nhỏ trong họng. Đây là cách phân biệt trống mái khá chắc ở vịt đã lớn, và cũng là dấu hiệu để biết đàn đang có bao nhiêu trống khi vịt lẫn lộn.
Lông đuôi xoăn. Vịt trống trưởng thành của nhiều giống có vài sợi lông giữa đuôi cong vểnh lên thành móc. Vịt mái không có. Lông này thường lộ rõ khi vịt trống đã thành thục, và có thể tạm mất khi vịt thay lông.
Màu lông và mỏ. Ở một số giống, vịt trống có đầu cổ màu khác, sẫm và óng hơn vịt mái. Nhưng với vịt trắng và nhiều giống lai, màu lông không giúp phân biệt; tiếng kêu và lông đuôi đáng tin hơn.
Vịt trống đạp mái: giao phối trên nước và trứng vịt có phôi
Khác gà trống, vịt trống có một cơ quan giao cấu thật sự, nên lần giao phối diễn ra khác hẳn. Vịt trống thích đạp mái trên mặt nước: vịt mái hạ thấp người, gần như chìm phần thân, vịt trống trèo lên lưng, ngậm lông gáy. Trên cạn vịt vẫn giao phối được, nhưng nhiều người nuôi nhận thấy đàn vịt có ao, mương nước sạch để tắm thì tỷ lệ trứng có phôi tốt hơn đàn nuôi khô hoàn toàn.
Mặt trái là khi đàn có quá nhiều vịt trống so với mái, nhiều con có thể dồn đạp một con mái trên nước, khiến con mái kiệt sức, bị thương ở gáy, thậm chí bị dìm. Đây là lý do người làm vịt giống giữ tỷ lệ trống mái phù hợp và tách bớt vịt trống thừa. Thấy một con mái bị dồn liên tục, trụi gáy, đi lại mệt mỏi, nên tách con đó ra cho nghỉ.
Giống như gà, vịt mái giữ được tinh trùng trong ống dẫn trứng một thời gian, nên trứng vẫn có phôi nhiều ngày sau lần giao phối cuối. Cách nhìn trứng vịt có phôi khi đập ra cũng tương tự trứng gà: đĩa phôi có dạng vòng nhẫn, rõ hơn chấm trắng nhỏ của trứng không phôi.
Phần lớn vịt nhà hiện nay rất ít đòi ấp, nhất là vịt chuyên trứng, nên trứng vịt có phôi gần như luôn được ấp bằng máy, lò ấp hoặc giao cho gà, ngan ấp hộ. Kỹ thuật ấp và chọn trứng ấp là phần của người làm giống; ở đây chỉ cần nhớ rằng muốn trứng có phôi tốt thì cần vịt trống khoẻ, đủ số, và đàn có nước tắm sạch.
Những gì làm vịt đẻ thất thường
Vịt khá nhạy với thay đổi. Khi đàn đang đẻ đều bỗng sụt, các nguyên nhân hay gặp gồm:
- Đổi chỗ, đổi đồng: vịt chạy đồng bị chuyển sang cánh đồng mới, bị vận chuyển xa, thường sụt trứng vài ngày.
- Hết mồi: cuối mùa gặt, ruộng hết thóc rơi, ốc, tép mà không được bù thức ăn, vịt đẻ thưa dần.
- Nắng nóng: không có bóng mát, không có nước tắm, vịt ăn ít, đẻ giảm và trứng nhỏ đi.
- Mưa bão, giá rét: vịt bị ướt lạnh qua đêm, chuồng dột, gió lùa làm cả đàn sụt trứng.
- Bị dọa ban đêm: chó, chuột, rắn, tiếng động lớn làm vịt hoảng loạn trong giờ đẻ.
- Thay lông: vịt mái cũng thay lông hằng năm và ngừng hoặc giảm đẻ trong thời gian đó.
- Thiếu nước uống: vịt cần uống nhiều, nhất là khi ăn thức ăn khô; máng cạn vài giờ đã ảnh hưởng.
- Bệnh: sụt trứng kèm vịt ủ rũ, chảy nước mắt, phân xanh, liệt chân, chết rải rác là dấu hiệu phải báo thú y.
Với vịt chạy đồng, người chăn có kinh nghiệm hay chọn đồng và lịch di chuyển sao cho đàn ít bị xáo trộn trong những tuần đẻ cao. Với vịt nuôi nhốt, giữ mọi thứ ổn định là cách đơn giản nhất để đàn đẻ đều.
Vịt chạy đồng đi qua địa giới nhiều xã, nhiều tỉnh còn phải tuân thủ quy định kiểm dịch vận chuyển động vật; đây vừa là chuyện pháp lý vừa là chuyện sinh sản, vì một đợt dịch trên đường đi có thể làm mất cả đàn đang đẻ.
Theo dõi nhịp đẻ của đàn vịt bằng sổ
Ghi sổ mỗi sáng mất vài phút nhưng giúp bạn thấy sụt trứng sớm hơn mắt thường:
- Đếm số vịt mái trong đàn, ghi lại mỗi khi có con chết, con bán, con mới nhập.
- Mỗi sáng sau khi nhặt trứng, ghi tổng số quả, ghi riêng số trứng dập vỡ, trứng không vỏ, trứng rơi ngoài.
- Cuối tuần lấy trung bình số trứng một ngày chia cho số vịt mái để ra tỷ lệ đẻ.
- Ghi bên cạnh những sự kiện trong tuần: đổi đồng, đổi thức ăn, mưa bão, có thú quấy chuồng.
- So các tuần với nhau; tụt mạnh hai tuần liền mà không rõ lý do là lúc kiểm kỹ và hỏi thú y.
Ví dụ giả định: đàn hai trăm vịt mái, tuần trước trung bình nhặt được một trăm sáu mươi quả mỗi sáng, tức chừng tám mươi phần trăm. Tuần này còn khoảng một trăm hai mươi quả, sổ ghi đàn vừa chuyển sang cánh đồng mới và có hai đêm mưa lớn. Khả năng cao là đàn sụt do xáo trộn; nếu hai tuần sau vẫn chưa hồi hoặc vịt có biểu hiện bệnh thì cần mời thú y.
Khi nào cần gọi bác sĩ thú y
Nên báo thú y ngay khi đàn vịt đẻ sụt mạnh kèm theo vịt chết, nhất là chết nhiều con trong một hai ngày, vịt chảy nước mắt, sưng đầu, phân xanh loãng, liệt chân, run đầu. Một số bệnh của vịt lây rất nhanh trong đàn và giữa các đàn chạy chung cánh đồng, có bệnh lây sang người. Khi có dấu hiệu dịch, không lùa đàn đi đồng khác, không bán chạy, và làm theo hướng dẫn của thú y địa phương.
Ở từng con, nên hỏi thú y khi vịt mái rặn liên tục mà không ra trứng, bụng phình, đi lạch bạch khó nhọc như mang vật nặng, hoặc có khối đỏ lòi ra lỗ huyệt không tự thụt vào. Đó có thể là tắc trứng hay sa ống dẫn trứng, không tự can thiệp bằng tay.
Không tự dùng thuốc kích đẻ cho vịt. Trứng của đàn đang dùng thuốc theo chỉ định có thể phải để riêng một thời gian sau khi ngừng thuốc; hỏi rõ người kê đơn.
Khi mời thú y, mang theo sổ trứng, kể rõ đàn đã đi qua những cánh đồng nào, uống nước ở đâu, có tiếp xúc với đàn vịt khác không. Những chi tiết đó giúp khoanh vùng nguồn bệnh nhanh hơn nhiều so với chỉ mô tả triệu chứng.
Câu hỏi thường gặp
Vịt đẻ một ngày mấy quả?
Vịt mái khoẻ thường đẻ tối đa một quả mỗi ngày, giống gà, vì cơ thể cần hơn một ngày để làm xong một quả trứng. Vịt chuyên trứng ở giai đoạn đẻ cao đẻ gần như mỗi ngày, xen vài ngày nghỉ.
Vì sao vịt hay đẻ ban đêm?
Đó là nhịp sinh học của vịt: phần lớn vịt mái đẻ trong khoảng từ nửa đêm tới sáng sớm. Người nuôi tận dụng bằng cách nhốt đàn qua đêm, nhặt trứng buổi sáng rồi mới thả đi ăn.
Vịt mái không có vịt trống có đẻ không?
Có. Vịt mái đẻ trứng không cần vịt trống. Trứng đẻ khi không có trống là trứng không phôi, vẫn dùng làm trứng ăn, làm trứng muối bình thường. Vịt trống chỉ cần khi muốn trứng có phôi để ấp.
Vịt có đòi ấp như gà không?
Phần lớn vịt nhà, nhất là vịt chuyên trứng, rất ít đòi ấp. Một số vịt địa phương, vịt kiêm dụng thỉnh thoảng nằm ổ. Vì vậy trứng vịt có phôi thường được ấp bằng máy, lò ấp hoặc nhờ gà, ngan ấp hộ.
Nuôi vịt không có ao thì trứng có phôi không?
Vẫn có, vì vịt giao phối được trên cạn. Tuy vậy nhiều người nuôi nhận thấy có nước tắm sạch thì tỷ lệ trứng có phôi tốt hơn. Nếu nuôi khô, giữ nền chuồng không trơn và vịt trống khoẻ mạnh.
Vịt mái tơ đẻ trứng nhỏ có sao không?
Không sao. Những tuần đầu vịt mái tơ thường đẻ trứng nhỏ, có quả vỏ mỏng hoặc hai lòng đỏ. Cỡ trứng tăng dần khi vịt đẻ ổn định. Chỉ đáng lo khi trứng dị hình kéo dài hàng loạt ở vịt đã đẻ lâu.