Heo nái được coi là đẻ khó khi nái rặn mạnh mà sau khoảng nửa giờ không ra con nào, khi khoảng cách giữa hai con kéo dài quá khoảng một giờ trong lúc nái vẫn còn thai, hoặc khi nái ngừng rặn, mệt lả mà bụng vẫn còn căng. Dịch đen, có mùi hôi chảy ra hay heo con ra đã chết, thâm tím cũng là dấu hiệu ca đẻ đang gặp vấn đề và cần gọi thú y.
Khác với bò, heo nái đẻ cả ổ nhiều con, mỗi con nhỏ so với đường sinh dục nên phần lớn ca đẻ trôi chảy. Nhưng một ca đẻ kéo dài làm những con ra sau dễ ngạt và chết, còn nái thì kiệt sức và dễ mắc các bệnh sau đẻ. Bài dưới đây giúp hộ nuôi vài nái đọc được nhịp đẻ bình thường, nhận ra lúc nhịp đó bị gãy, và biết phần việc nào là của mình, phần nào thuộc về thú y.
Nhịp đẻ bình thường của heo nái
Trước khi đẻ một hai ngày, nái thường cắn phá, cào nền như làm ổ, bầu vú căng, vắt núm có sữa trong hoặc sữa đặc; vài giờ trước khi đẻ nái nằm xuống, thở nhanh, có dịch nhầy lẫn ít phân su ở âm hộ. Ca đẻ của một ổ thường kéo dài vài giờ, phổ biến trong khoảng hai tới năm giờ tuỳ số con và tuỳ con nái.
Heo con ra từng con một, cách nhau thường khoảng mười lăm tới hai mươi phút, có lúc ra liền hai ba con, có lúc nghỉ lâu hơn một chút. Heo con có thể ra bằng đầu hoặc bằng chân sau đều bình thường, vì thân heo con nhỏ và trơn. Nhau thường ra từng mảng xen giữa các con hoặc ra phần lớn sau con cuối cùng.
Dấu hiệu cho thấy ca đẻ đang ổn là nái nằm nghiêng yên, rặn theo cơn, chân sau thỉnh thoảng duỗi ra, đuôi giật nhẹ trước mỗi lần một con ra. Heo con ra là cựa quậy, tự tìm vú. Bạn không cần can thiệp gì ngoài việc lau mũi miệng, giữ ấm, bảo đảm heo con bú được sữa đầu, phần việc thuộc về bài chăm heo con sơ sinh.
Một thói quen nhỏ giúp ích rất nhiều là ghi giờ từng con ra lên một mảnh giấy treo cạnh chuồng, kèm dấu sống hay chết, ra đầu hay ra chân. Nhìn mảnh giấy đó, bạn biết ngay khoảng cách giữa con vừa ra và con trước là bao lâu thay vì phải nhớ, nhất là khi ca đẻ rơi vào nửa đêm và người trực đã buồn ngủ. Khi phải gọi thú y, đọc lại mảnh giấy là đủ để họ hình dung ca đẻ đang ở đâu. Sau ca đẻ, chép các con số đó vào sổ của nái để lứa sau có cái mà so.
Dấu hiệu nái đang đẻ khó
Khoảng cách giữa hai con kéo quá dài. Nái đã ra vài con rồi dừng hẳn, quá khoảng một giờ không ra thêm trong khi bụng còn to, sờ thấy còn thai, là dấu hiệu nên báo thú y. Ở lứa đầu, nhiều thú y muốn được gọi sớm hơn.
Rặn mạnh mà không ra. Nái rặn liên tục, chân sau duỗi căng, đuôi quẫy mạnh, có thể kêu, nhưng nửa giờ không có con nào ra. Thường là một con quá to hoặc hai con chen nhau chặn lối ra.
Không rặn ngay từ đầu. Nái có đủ dấu hiệu sắp đẻ, dịch nhầy đã ra, nhưng nằm im không rặn nhiều giờ. Có thể do tử cung co yếu, nái quá béo, nái già, hoặc nái bị stress vì nóng, vì người qua lại.
Dịch bất thường. Dịch màu đen, nâu sẫm, có mùi hôi, hoặc có máu đỏ tươi chảy nhiều là dấu hiệu thai chết lưu, nhiễm trùng hoặc tổn thương. Đeo găng khi tiếp xúc với dịch này.
Heo con ra đã chết hoặc thâm tím. Một vài con chết lúc sinh có thể xảy ra ở ổ đông, nhưng nhiều con liên tiếp ra đã chết, nhất là ở cuối ổ, cho thấy ca đẻ đang kéo dài quá mức và những con còn lại đang thiếu oxy.
Nái mệt lả, thở gấp, tai và da tái. Nái kiệt sức thì không tự đẩy nổi những con còn lại. Đây là lúc cần thú y vừa xử lý thai vừa đánh giá sức khoẻ nái.
Đẻ thường và đẻ khó: so sánh nhanh để ghi sổ
Ghi chép từng ca đẻ giúp bạn biết nái nào hay đẻ chậm và báo cho thú y chính xác. Bảng dưới là các mốc người nuôi nên để ý, con số là mức thường gặp, không phải giới hạn cứng.
| Điểm theo dõi | Thường thấy ở ca đẻ ổn | Gợi ý đẻ khó |
|---|---|---|
| Khoảng cách giữa hai con | Khoảng mười lăm tới hai mươi phút, đôi lúc lâu hơn | Quá khoảng một giờ trong khi còn thai |
| Kiểu rặn | Rặn theo cơn, có nghỉ, con ra sau vài loạt | Rặn dữ dội liên tục không ra, hoặc không rặn |
| Tổng thời gian cả ổ | Thường vài giờ | Kéo dài quá nhiều so với các lứa trước của chính nái đó |
| Dịch âm hộ | Nhầy, có ít máu loãng | Đen, nâu sẫm, hôi, hoặc máu đỏ chảy nhiều |
| Heo con mới ra | Cựa quậy, tự bò tìm vú | Nhiều con liền nhau yếu, tím tái hoặc đã chết |
| Trạng thái nái | Nằm nghiêng yên, thở đều giữa các cơn | Bồn chồn đứng lên nằm xuống, hoặc lả đi |
Mỗi nái có nhịp riêng. Một con lứa trước đẻ chậm, lứa này cũng chậm như vậy và heo con vẫn khoẻ thì chưa hẳn là đẻ khó. Chính vì thế sổ ghi chép của từng nái có giá trị hơn mọi con số chung.
Vì sao heo nái đẻ khó
Nguyên nhân hay gặp nhất ở trại nhỏ là nái quá béo. Nái được cho ăn quá nhiều trong kỳ chửa, ít vận động vì bị nhốt chật, sẽ có lớp mỡ dày quanh đường sinh dục và cơ tử cung co kém. Nái quá gầy lại rặn yếu, nhanh kiệt sức. Cả hai đầu đều làm ca đẻ dài ra.
Nguyên nhân thứ hai là con quá to hoặc tư thế bất thường, ví dụ hai con cùng vào cổ tử cung một lúc, một con nằm ngang, hoặc một con quá lớn trong ổ ít con. Ổ ít con thường mỗi con to hơn, nên nái lứa đầu ít con lại có nguy cơ kẹt cao hơn người ta nghĩ.
Nguyên nhân thứ ba liên quan môi trường: chuồng nóng, nái uống không đủ nước, táo bón trong những ngày cuối chửa làm khối phân trong ruột chèn vào đường sinh dục. Nái bị chuyển chuồng ngay sát ngày đẻ, bị tiếng ồn, người lạ vây quanh cũng dễ ngừng rặn.
Cuối cùng là bệnh: một số bệnh gây chết thai trong bụng làm thai lưu không được đẩy ra đúng nhịp. Khi thấy nhiều thai khô, thai thối, hoặc nhiều nái trong trại cùng đẻ non, đẻ ra con chết, đó là vấn đề của cả đàn và cần báo thú y để lấy mẫu, chứ không chỉ xử lý từng ca.
Làm gì khi nghi nái đẻ khó
Phần việc của người nuôi tập trung vào quan sát, giữ vệ sinh và giữ cho những con đã ra được an toàn. Thứ tự gợi ý:
- Nhìn đồng hồ và ghi giờ con gần nhất ra, giờ bắt đầu thấy bất thường.
- Gọi thú y, mô tả: nái lứa mấy, đã ra bao nhiêu con, bao nhiêu con sống, dịch màu gì, nái còn rặn không.
- Lau khô và đưa những con đã ra vào ô úm có đèn sưởi, để tránh bị nái đè khi nái trở mình liên tục.
- Cho nái uống nước sạch nếu nái chịu uống; giữ chuồng yên, giảm ánh sáng chói, không cho người vây xem.
- Rửa sạch vùng mông và âm hộ nái bằng nước ấm sạch, lau khô; chuẩn bị xô nước ấm, xà phòng, khăn, găng tay dài cho thú y.
- Nếu thú y hướng dẫn qua điện thoại, chỉ làm đúng phần được dặn; việc đưa tay vào đường sinh dục để lấy con kẹt là thủ thuật cần người được đào tạo và găng tay sạch.
Sau khi thú y xử lý xong, hỏi rõ còn thai bên trong không, cần theo dõi gì trong hai ba ngày tới, và ghi lại toàn bộ ca đẻ vào sổ của nái đó.
Những điều không nên làm
Nhiều thói quen phổ biến ở trại nhỏ lại làm ca đẻ khó tệ hơn hoặc để lại hậu quả cho lứa sau:
- Tự tiêm thuốc thúc đẻ khi chưa ai khám: nếu có con đang kẹt hoặc cổ tử cung chưa mở hết, tử cung co mạnh hơn không đẩy được con ra mà có thể làm rách hoặc vỡ tử cung.
- Thò tay không găng, móng tay dài vào đường sinh dục: dễ làm trầy niêm mạc và đưa vi khuẩn vào, là nguyên nhân hay gặp của viêm tử cung và mất sữa sau đẻ.
- Dùng móc, kìm tự chế để lôi con: ở tay người không có chuyên môn, dụng cụ này làm rách đường sinh dục.
- Đổ dầu ăn hay chất lạ vào để bôi trơn.
- Đánh, quát nái để nái đứng dậy rặn: nái sợ hãi tiết ra chất làm ngừng co bóp, ca đẻ càng chậm.
- Bỏ nái đẻ một mình suốt đêm khi biết nái đó lứa trước đã đẻ khó.
Mấy điều trên không phải lời doạ, mà là lý do vì sao các ca nái đẻ khó ở trại nhỏ thường kéo theo nái sốt, mất sữa, viêm tử cung và phải loại thải sớm.
Phòng nái đẻ khó từ những ngày chửa
Cách phòng đẻ khó hiệu quả và rẻ nhất là giữ thể trạng nái hợp lý suốt kỳ chửa. Nhờ cán bộ kỹ thuật hoặc thú y chỉ cho cách nhìn và sờ lưng, hông nái để đánh giá béo gầy, rồi điều chỉnh lượng thức ăn theo từng con thay vì đổ đều một mức cho cả dãy chuồng. Heo nái thường mang thai khoảng 114 ngày; ghi ngày phối để biết trước ngày đẻ dự kiến.
Vài ngày trước ngày dự kiến, chuyển nái vào chuồng đẻ đã rửa, sát trùng và để khô, để nái quen chỗ. Bảo đảm nước uống luôn đủ và sạch, núm uống chảy đủ mạnh; thêm rau xanh hoặc nguồn chất xơ theo hướng dẫn kỹ thuật để nái không táo bón. Chuồng đẻ mát, thoáng, có ô úm sưởi riêng cho heo con để không phải sưởi nóng cả chỗ nái nằm.
Với nái lứa đầu và nái từng đẻ khó, bố trí người trực trong ca đẻ. Nhiều ổ đẻ vào ban đêm; một người ngồi gần, ghi giờ từng con, lau và đưa heo con vào ô úm, đủ để phát hiện sớm khi nhịp đẻ bị gãy. Nái đẻ khó nhiều lứa liên tiếp nên được bàn với thú y về việc có giữ lại làm nái nữa hay không.
Câu hỏi thường gặp
Heo nái đẻ bao lâu thì xong một ổ?
Thường khoảng vài giờ, phổ biến từ hai tới năm giờ tuỳ số con và sức nái. Quan trọng hơn tổng thời gian là khoảng cách giữa hai con: cách nhau khoảng mười lăm tới hai mươi phút là bình thường, quá một giờ trong khi còn thai thì nên báo thú y.
Làm sao biết nái đã đẻ hết chưa?
Dấu hiệu thường gặp là nái thôi rặn, nằm yên cho con bú, bụng xẹp hẳn, nhau ra gần hết. Tuy vậy đôi khi vẫn còn một con kẹt bên trong; nếu nái vẫn rặn lác đác, bỏ ăn hoặc sốt sau đó, nên mời thú y khám.
Heo con ra bằng đuôi có phải đẻ ngược nguy hiểm không?
Ở heo, con ra bằng chân sau là chuyện bình thường, gặp ở rất nhiều con trong một ổ. Khác với bò, heo con nhỏ và trơn nên ra theo chiều nào cũng được, chỉ cần lau sạch mũi miệng ngay khi ra.
Có nên tiêm thuốc thúc đẻ cho nái đẻ chậm không?
Không nên tự tiêm. Thuốc thúc đẻ chỉ có ích khi cổ tử cung đã mở hết và không có con nào kẹt; nếu dùng sai lúc, tử cung co mạnh có thể bị rách. Quyết định này thuộc về bác sĩ thú y sau khi khám.
Nái lứa đầu có hay đẻ khó không?
Nái lứa đầu dễ đẻ chậm hơn vì đường sinh dục chưa từng giãn, nái hay hoảng khi lần đầu đẻ trong chuồng hẹp. Ổ ít con ở lứa đầu cũng thường có con to. Vì vậy nên có người trực và báo thú y sớm hơn với nái lứa đầu.
Sau ca đẻ khó cần theo dõi nái những gì?
Theo dõi nái có ăn lại không, có sốt không, bầu vú có nóng cứng không, heo con có bú no và ngủ yên không, dịch âm hộ có hôi không. Nái sau đẻ khó dễ bị sốt, viêm tử cung, mất sữa trong vài ngày đầu, nên báo thú y ngay khi thấy bất thường.